khái niệm tái sản xuất, tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất mở rộng, tái sản xuất xã hội và nội dung của nó ?

Sản xuất ra của cải vật chất là hoạ động cơ bản của loài người. Nó không phải là hoạt động nhất thời mà là quá trình sản xuất được lặp lại thường xuyên và phục hồi không ngừng tức là tái sản xuất.

Xét về quy mô người ta chia tái sản xuất thành hai loại: tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng:

– Tái sản xuất giản đơn là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại với quy mô như cũ. Loại hình tái sản xuất này thường gắn với sản xuất nhỏ và là đặc trưng chủ yếu của sản xuất nhỏ vì chưa có sản phẩm thặng dư hoặc nếu có thì tiêu dùng cho cá nhân hết.

Tái sản xuất mở rộng là một quá trình sản xuất mà quy mô sản xuất năm sau lớn hơn năm trước. Loại sản xuất này thường gắn với nền sản xuất lớn và là đặc trưng chủ yếu của nền sản xuất lớn có nhiều sản phẩm thặng dư. Nguồn gốc của tái sản xuất mở rộng là sản phẩm thặng dư.

Tái sản xuất mở rộng có thể thực hiện theo hai mô hình sau:

Tái sản xuất phát triển theo chiều rộng: biểu hiện ở chỗ sản phẩm sản xuất ra tăng lên nhưng không phải do năng suất lao động tăng lên, mà là do vốn sản xuất và khối lượng lao động tăng lên.

Tái sản xuất phát triển theo chiều sâu: biểu hiện ở chỗ sản phẩm sản xuất ra tăng lên do năng suất lao động tăng lên.

Tái sản xuất xã hội. Trong tái sản xuất có thể xét trong từng doanh nghiệp cá biệt và có thể xem xét trong phạm vi xã hội.

Tái sản xuất xã hội là tổng thể những tái sản xuất cá biệt trong mối liên hệ hữu cơ với nhau.

– Nội dung của tái sản xuất xã hội: Bất kỳ xã hội nào, tái sản xuất cũng bao gồm những nội dung sau:

Tái sản xuất của cải vật chất: Của cải vật chất sản xuất ra bao gồm tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng.

Chỉ tiêu đánh giá tái sản xuất của cải vật chất là tổng sản phẩm xã hội.

Trên thế giới hiện nay thường theo cách tính qua hai chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc gia (GNP = Gross National Product) và tổng sản phẩm quốc nội (GDP = Gross Domestic Product).

Sự khác nhau giữa GNP và GDP ở  chỗ: GNP được tính cả phần giá trị trong nước và giá trị phần đầu tư ở nước ngoài đem lại, còn GDP chỉ tính phần giá trị trong nước.

Sự tăng lên của tổng sản phẩm xã hội hay GDP và GNP phụ thuộc vào các nhân tố tăng năng suất lao động và tăng khối lượng lao động, trong đó tăng năng suất lao động là nhân tố vô hạn.

 Tái sản xuất sức lao động:

Sức lao động là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và trong quá trình sản xuất nó bị hao mòn. Do đó nó phải được sản xuất để thực hiện quá trình sản xuất tiếp theo: Tái sản xuất sức lao động còn bao hàm việc đào tạo, đổi mới thế hệ lao động cũ bằng thế hệ lao động mới có chất lượng cao hơn phù hợp với trình độ mới của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại.

Tái sản xuất quan hệ sản xuất:

Tái sản xuất diễn ra trong những quan hệ sản xuất nhất định. Vì vậy, quá trình sản xuất là quá trình phát triển, hoàn thiện quan hệ sản xuất, làm cho quan hệ sản xuất thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Tái sản xuất môi trường: Quá trình tái sản xuất không thể tách rời điều kiện tự nhiên và môi trường sống của sinh vật và con người.

Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp, hậu quả của chiến tranh, chạy đua sản xuất và thử nghiệm vũ khí đã làm môi trường sinh thái mất cân bằng. Do đó, tái sản xuất môi trường sinh thái phải trở thành nội dung của sản xuất, phải nằm trong cơ cấu đầu tư vốn cho quá trình tái sản xuất.