Phân tích điều kiện lịch sử xuất hiện và tư tưởng cơ bản của học thuyết Keynes (1883-1946). ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu vấn đề này?

Điều kiện lịch sử xuất hiện học thuyết  Keynes

Những năm 30 của thế kỷ XX, các tổ chức độc quyền đã thống trị nền sản xuất xã hội, nền sản xuất đã xã hội hoá rất cao, sự phân công lao động xã hội phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, các ngành kinh tế, các vùng kinh tế, các lĩnh vực kinh tế quan hệ chặt chẽ với nhau trong một cơ thể kinh tế thống nhất. Vì vậy, chỉ cần một ngành kinh tế khủng hoảng là cả nền sản xuất xã hội khủng hoảng dữ dội. Cuộc khủng hoảng kinh tế Tư bản chủ nghĩa thế giới 1929 – 1933 là một chứng minh Keynes cho rằng: thuyết “Bàn tay vô hình”, cơ chế thị trường từ điều tiết nền sản xuất xã hội của Smit không còn tác dụng nữa, mà nền sản xuất xã hội hoá cao đó đòi hỏi phải có sự điều tiết từ một trung tâm đó là nhà nước tức là “bàn tay hữu hình” để điều tiết vĩ mô nền kinh tế.

Tư tưởng cơ bản của học thuyết Keynes

+ Lý thuyết về “sức cung tổng quát” và “sức cầu tổng quát”. Ông cho rằng điều tiết nền kinh tế nên chú ý hai yếu tố cơ bản “sức cung tổng quát” và “sức cầu tổng quát” tức là tổng số hàng hoá các nhà sản xuất đưa ra thị trường bán và tổng số hàng hoá mà những người tiêu thụ muốn mua trên thị trường. Giữa hai yếu tố này ít khi cân bằng và trong hầu hết các trường hợp “tổng cầu” thường thấp hơn “tổng cung”, khiến cho “tổng cung” có xu hướng giảm xuống, dẫn đến giảm việc làm, thất nghiệp, khủng hoảng kinh tế. Do đó vấn đề then chốt là phải tăng “tổng cầu” cả về tiêu thụ và đầu tư. Nếu “tổng cầu” lớn hơn “tổng cung” sẽ làm tăng sức đầu tư, tăng việc làm, tăng sản lượng quốc gia, tránh được khủng hoảng kinh tế. Người ta còn gọi học thuyết của Keynes là thuyết “Trọng cầu”

Tổng cầu phụ thuộc vào các yếu tố: thu nhập của dân cư, trong đó một phần nộp thuế, một phần chi tiêu gia đình, một phần tiết kiệm. Phần tiết kiệm là cơ sở của đầu tư.

Tổng cầu = Chi tiêu gia đình+Chi tiêu của Chính phủ+Chi tiêu cho đầu tư

+ Thuyết bội số đầu tư. Theo Keynes vai trò của đầu tư có tác dụng nhân bội đối với sản lượng quốc gia. Một thay đổi nhỏ đến đầu tư cũng dẫn đến thay đổi lớn trong “tổng cầu” và “tổng cung”. Vì nguồn đầu tư ban đầu sẽ có tác dụng mở rộng thu nhập, mở rộng chi tiêu và sản lượng quốc gia. Từ đó phải sử dụng ngân sách Nhà nước để kích thích đầu tư của tư nhân và nhà nước. Nhà nước thực hiện các đơn đặt hàng, trợ cấp tài chính, tín dụng để đảm bảo ổn định lợi nhuận và đầu tư.

ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu vấn đề này

– Nền kinh tế nước ta những năm 80 của Thế kỷ XX lâm vào tình trạng suy thoái và lạm phát. Để chấn hưng nền kinh tế phải chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước. Một trong những biện pháp quan trọng là Nhà nước đã sử dụng công cụ tài chính, tín dụng, luật đầu tư trong nước và luật đầu tư nước ngoài nên qua 5 năm đổi mới nền kinh tế nước ta đã thoát khỏi tình trạng suy thoái và lạm phát.