Phân tích mặt chất, lượng của giá trị hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá.

Mặt chất của giá trị hàng hoá

Giá trị hàng hoá là hao phí lao động của con người kết tinh trong hàng hoá. Vì vậy, chất của giá trị hàng hoá là lao động kết tinh trong hàng hoá. Điều đó có nghĩa là:

Chất của giá trị là lao động của con người kết tinh thì bất cứ vật gì không phải là sản phẩm của lao động đều không có giá trị. Như không khí rất có ích cho con người nhưng không phải là sản phẩm của lao động nên không có giá trị. Quả dại, nước suối là sản phẩm của thiên nhiên, người ta dùng nó không phải trả giá cả nào nên cũng không có giá trị.

Không phải bất cứ lao động nào của con người cũng là chất của giá trị, mà chỉ có lao động của con người sản xuất hàng hoá mới là chất của giá trị. Trong công xã nguyên thuỷ, người ta cũng lao động sản xuất ra sản phẩm, nhưng lao động đó không phải là chất của giá trị vì sản phẩm bây giờ không coi như hàng hoá để bán. Không phải thứ lao động nào của con người sản xuất hàng hoá cũng là chất của giá trị, cũng đều tạo ra giá trị. Chẳng hạn một người thợ thủ công nếu làm ra một sản phẩm không dùng được, sản phẩm hỏng thì lao động của họ là vô ích, không có giá trị.

Nếu giá trị sử dụng thuộc tính tự nhiên của hàng hoá thì giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hoá. Ta không nhìn thấy, không sờ thấy giá trị của hàng hoá, nó chỉ biểu hiện khi thông qua liên hệ xã hội, thông qua giá trị trao đổi.

Giá trị biểu hiện quan hệ sản xuất của người sản xuất hàng hoá, nghĩa là giá trị chỉ sinh ra và tồn tại trên cơ sở của quan hệ hàng hoá. Nếu không có sự trao đổi hàng hoá thì không có giá trị.

Lượng giá trị hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá

– Lượng giá trị hàng hoá. Nếu chất của giá trị hàng hoá là lao động xã hội kết tinh trong hàng hoá, thì lượng giá trị hàng hoá là số lượng lao động xã hội hao phí để sản xuất hàng hoá. Lượng giá trị hàng hoá được đo bằng thời gian lao động. Lượng giá trị lớn hay nhỏ không phải do thời gian lao động của người lao động cá biệt quyết định mà do thời gian lao động xã hội cần thiết quyết định. Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất một hàng hoá trong điều kiện sản xuất bình thường của xã hội với trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao động trung bình. Thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết gần sát với thời gian lao động cá biệt của người sản xuất hàng hoá nào chiếm đại bộ phận hàng hoá đó trên thị trường.

Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá

Năng suất lao động ảnh hưởng đến giá trị hàng hoá. Năng suất lao động được đo bằng số lượng sản phẩm tạo ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian để sản xuất một đơn vị sản phẩm. Giá trị hàng hoá thay đổi tỷ lệ nghịch với năng suất lao động, còn năng suất lao động lại phụ thuộc vào các yếu tố: Trình độ kỹ thuật của người lao động, mức trang bị kỹ thuật cho người lao động, phương pháp tổ chức lao động và các điều kiện lao động.

Cần phân biệt tăng năng suất lao động với tăng cường độ lao động. Tăng năng suất lao động, số lượng sản phẩm tăng lên, nhưng tổng giá trị của sản phẩm không đổi, còn giá trị một sản phẩm giảm xuống. Tăng cường lao động, số lượng sản phẩm tăng lên và tổng giá trị sản phẩm cũng tăng lên nhưng giá trị một sản phẩm không đổi.

– Lao động của người sản xuất hàng hoá có trình độ thành thạo khác nhau. Nó được chia thành hai loại: lao động giản đơn và lao động phức tạp. Lao động giản đơn là không phải qua đào tạo huấn luyện, lao động phức tạp là lao động phải trải qua đào tạo, huấn luyện. Trong cùng một đơn vị thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn.

Trong quá trình trao đổi hàng hoá, mọi lao động phức tạp đều được quy thành bội số lao động giản đơn trung bình một cách tự phát trên thị trường