Phương pháp và phương pháp luận là gì? Vai trò?

Phương pháp

Thuật ngữ “phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là methodos, nghĩa là cách thức, thủ đoạn để chủ thể sử dụng để đạt những mục tiêu nhất định.

 Theo nghĩa khoa học, phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh các hoạt động của nhận thức và thực tiễn nhằm đạt những mục đích nhất định.

Khi bàn đến nguồn gốc của phương pháp, chủ nghĩa duy tâm cho rằng: phương pháp có nguồn gốc chủ quan, là những nguyên tắc do lý trí con người tự ý đặt ra để tiện cho việc nhận thức và hành động. Trái lại, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng: phương pháp bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh những quy luật khách quan của đối tượng nghiên cứu. Sức mạnh của phương pháp là, trong khi phản ánh đúng đắn những quy luật khách quan, nó đem lại cho khoa học và thực tiễn một công cụ hiệu quả để nghiên cứu và cải tạo thế giới.

Tuỳ vào chức năng, phạm vi ứng dụng mà người ta chia phương pháp ra làm nhiều loại khác nhau, như: phương pháp riêng, chung, phổ biến; phương pháp nhận thức, thực tiễn v.v.. Tuy vậy, việc phân loại như trên chỉ có ý nghĩa tương đối. Tính tương đối của các phương pháp phản ánh một tình hình thực tế là trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, các loại phương pháp có thể được phối hợp đan xen và bổ sung cho nhau.

Phương pháp luận

Trong thực tiễn, con người có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để giải quyết công việc đã định. Quá trình lựa chọn phương pháp có thể đúng hoặc sai. Vậy làm thế nào để để lựa chọn phương pháp đúng đắn khoa học? Từ đó xuất hiện nhu cầu tri thức khoa học về phương pháp  và đó cũng chính là lý do để khoa học về phương pháp ra ddời đó chính là phương pháp luận.

Vậy, phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là khoa học về phương pháp. Phương pháp luận giải quyết những vấn đề như: phương pháp là gì? Bản chất, nội dung, hình thức vận động của phương pháp như thế nào? Phân loại phương pháp ra sao? Vai trò của phương pháp trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn như thế nào?… Do đó, có thể nói cụ thể hơn, phương pháp luận là hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp cũng như trong việc xác định phạm vi, khả năng áp dụng chúng một cách hợp lý, có hiệu quả tối đa.

Giữa phương pháp và phương pháp luận có sự khác nhau. Phương pháp luận là lý luận về phương pháp, còn phương pháp là cách thức, thủ đoạn hoạt động cụ thể của chủ thể. Nói cách khác, nếu phương pháp là con đường dẫn đến mục tiêu đã định thì phương pháp luận là những tấm biển chỉ đường để đi đến mục tiêu đó. Cái thứ nhất là thuần tuý lý luận, cái thứ hai là lý luận thực tiễn. Chính vì vậy không nên nhầm lẫn giữa phương pháp và phương pháp luận.

Phương pháp luận cũng có nhiều cấp độ khác nhau: phương pháp luận bộ môn, phương pháp luận khoa học chung và phương pháp luận chung nhất – phương pháp luận triết học.

Các phương pháp luận bộ môn, phương pháp luận khoa học chung, phương pháp luận chung nhất hợp thành một hệ thống khoa học về phương pháp chỉ đạo chủ thể nhằm xác định các phương pháp cụ thể một cách đúng đắn. Các loại phương pháp này vừa độc lập tương đối với nhau, vừa bổ sung cho nhau, thâm nhập vào nhau mặc dù không thể thay thế cho nhau. Do đó chúng ta phải biết vận dụng tổng hợp các loại phương pháp luận, trong đó phép biện chứng duy vật là phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng.

Vai trò phương pháp luận của phép biện chứng duy vật

Biện chứng và siêu hình là hai mặt đối lập trong phương pháp chung nhất của tư duy

Lịch sử triết học là lịch sử phát triển của tư duy triết học, trong đó gắn liền với cuộc đấu tranh giữa hai phương pháp nhận thức: phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình. Biện chứng và siêu hình là hai mặt đối lập trong phương pháp của tư duy. Chính cuộc đấu tranh lâu dài của hai phương pháp này đã đẩy tư duy triết học phát triển  và được hoàn thiện dần với tư duy biện chứng duy vật.

Tư duy siêu hình là phương pháp xem xét sự vật trong giới hạn hết sức chật hẹp. Theo Ph.Ăngghen: Những người mắc phải phương pháp tư duy siêu hình thường nói có là có, không là không. Cái gì vượt ra ngoài khuôn khổ ấy thì chẳng có giá trị gì hết. Đối với họ thì sự vật hoặc tồn tại, hoặc không tồn tại. Một sự vật không thể nào vừa là chính nó lại vừa là cái khác. Cái khẳng định và cái phủ định tuyệt đối bài trừ lẫn nhau; nguyên nhân và kết quả cũng đối lập với nhau một cách cứng nhắc như vậy.

Ph.Ăngghen còn nhận xét thêm rằng: “Phương pháp tư duy ấy… nếu cứ quanh quẩn trong các lĩnh vực tầm thường giữa bốn bức tường của nó thì là một công cụ hết sức đáng kính; song nếu nó liều lĩnh xông vào thế giới bao la của sự nghiên cứu… thì sớm hay muộn nó cũng vấp phải một hàng rào mà vượt ra khỏi hàng rào đó thì trở thành phiến diện, chật hẹp, trừu tượng và sa vào những mâu thuẫn không thể nào giải quyết được”

Trong lịch sử triết học, thuật ngữ “siêu hình” có nguồn gốc từ chữ “métaphysique” đã được nhà bác học aristốt dùng để chỉ những hoạt động nghiên cứu khoa học sau vật lý học của mình. Từ nửa cuối thế kỷ XV, thực nghiệm khoa học mới thực sự bắt đầu phát triển. đây là thời kỳ khoa học tự nhiên đi sâu vào phân tích, chia nhỏ giới tự nhiên ra thành những bộ phận riêng biệt, cố định để nghiên cứu, Từ đó cũng tạo ra thói quen xem xét sự vật trong trạng thái cô lập, tách rời, bất biến, tức là phương pháp siêu hình.Từ khi Bêcơn và Lốccơ đưa cách xem xét đó từ khoa học tự nhiên sang triết học thì nó làm cho phương pháp siêu hình trở thành phương pháp thống trị. Phương pháp này chỉ thực sự hết vai trò của mình vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Ngược lại với phương pháp tư duy siêu hình là phương pháp tư duy biện chứng. Tư duy biện chứng không chỉ thấy được những sự vật cá biệt mà còn thấy được mối liên hệ và sự tác động qua lại giữa chúng. Cũng như thuật ngữ  “siêu hình”, thuật ngữ “biện chứng” đã được hình thành ở thời kỳ cổ Hy Lạp, gắn liền với phép biện chứng duy tâm của Xôcrát và Platôn. Khi đó phép biện chứng được hiểu là nghệ thuật tranh luận nhằm tìm ra chân lý bằng cách phát hiện ra các mâu thuẫn trong lập luận của đối phương và tìm cách giải quyết mâu thuẫn ấy. Nhưng trước Xôcrát đã có phép biện chứng gắn liền với tên tuổi của Hêraclít… Phép biện chứng cổ đại đã phải lùi bước trước phép biện chứng duy tâm của Xôcrát và Platôn bởi vì, về cơ bản tuy phép biện chứng ấy là đúng, chỉ mới là kết quả của những trực biến (phỏng đoán) chứ chưa phải là sự nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh. Đến lượt mìmh, phép biện chứng duy tâm của Xôcrát và Platôn lại bị phép siêu hình (thế kỷ XVII – XVIII) phủ định. Sau đó phép biện chứng duy tâm Đức (của Cantơ và Hêghen) lại phủ định phép siêu hình. Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, cùng với sự phát triển của khoa học và nhận thức thời đại thì chính tính chất duy tâm trong phép biện chứng của Cantơ và Hêghen là cái cần phải bị gạt bỏ. C. Mác và Ph.Ăngghen đã cải tạo nó bằng cách chứng minh rằng, những ý niệm trong đầu óc của chúng ta chẳng qua chỉ là sự phản ánh của các sự vật hiện thực. C. Mác và Ph.Ăngghen đã cải tạo phép biện chứng ấy từ duy tâm thành duy vật và sáng tạo ra phép biện chứng duy vật – một giai đoạn phát triển cao nhất của phép biện chứng.

Sự thống nhất giữa lý luận và phương pháp trong phép biện chứng duy vật

Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương pháp. Hệ thống các quy luật, phạm trù của nó không chỉ phản ánh đúng đắn thế giới khách quan mà còn chỉ ra những cách thức để định hướng cho con người trong nhận thức và cải tạo thế giới.

Phép biện chứng duy vật không chỉ khái quát các thành tựu của tất cả các khoa học cụ thể mà còn kết tinh những tinh hoa trong quá trình phát triển  tư tưởng triết học của nhân loại. Phép biện chứng duy vật bao gồm hai nguyên lý cơ bản, những cặp phạm trù và những quy luật cơ bản. Trong phép biện chứng duy vật có sự thống nhất giữa lý luận và phương pháp: đó là lý luận của chủ nghĩa duy vật được xem xét một cách biện chứng. Phép biện chứng duy vật còn có sự thống nhất giữa lý luận nhận thức và lôgíc học. Đi sâu vào từng nguyên lý, quy luật và phạm trù chúng ta càng thấy rõ sự thống nhất chặt chẽ giữa lý luận và phương pháp. Chính sự thống nhất này mà phép biện chứng duy vật đã trở thành lý luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng. Cụ thể là:

– Nguyên lý mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật đã khái quát bức tranh toàn cảnh chằng chịt nhưngx mối liên hệ của thế giới. Trong đó cho thấy mối liên hệ phổ biến là đặc trưng phổ quát nhất của thế giới. Từ nguyên lý này, phép biện chứng duy vật đã khái quát thành quan điểm toàn diện khi xem xét về thế giới. Quán triệt quan điểm này, chúng ta cần phải tuân thủ chặt chẽ 3 nguyên tắc sau đây:

* Phải xem xét toàn diện các mối liên hệ.

* Trong các mối liên hệ phải rút ra được mối liên hệ bản chất chủ yếu để hiểu bản chất sự vật.

* Từ mối liên hệ bản chất của sự vật phải quay lại để hiểu rõ sự vật trên cơ sở có tính đến các mối liên hệ khác. Quan điểm toàn diện đối lập với mọi suy nghĩ phiến diện, chiết trung, siêu hình.

– Nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật phản ánh xu hướng vận động đặc trưng biện chứng và phổ quát của thế giới. Đó là: mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới luôn luôn vận động và luôn luôn có xu hướng phát triển. Nguyên lý phát triển của phép biện chứng duy vật đã tạo nên một nguyên tắc của sự xem xét: nguyên tắc phát triển. Quán triệt nguyên tắc này, yêu cầu phải xem xét sự vật trong sự vận động và phát triển. Tư duy khi xem xét sự vật cần phải năng động, linh hoạt, mềm dẻo; phải nhận thức được cái mới, ủng hộ và tạo điều kiện cho cái mới phát triển.

– Lý luận về các cặp phạm trù và các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật là sự cụ thể hoá thêm hai nguyên lý mối liên hệ phổ biến và sự phát triển. ở đây cần phân biệt hai nguyên lý với các cặp phạm trù, các quy luật cơ bản trong phép biện chứng duy vật. Các nguyên lý  của phép biện chứng duy vật là quan niệm bao quát về biện chứng của thế giới, còn các cặp phạm trù và các quy luật cơ bản là sự thể hiện hai nguyên lý trên trong các lĩnh vực, các quá trình cụ thể.

Khi xem xét các cặp phạm trù cần phải thấy được rằng: nếu các cặp phạm trù cái riêng, cái chung, tất nhiên và ngẫu nhiên, bản chất và hiện tượng là cơ sở phương pháp luận trực tiếp của các phương pháp như: phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp; khái quát hoá, trừu tượng hoá để giúp  chúng ta rút ra được mối liên hệ bản chất, từ đó hiểu được toàn bộ các mối liên hệ theo một hệ thống nhất định, thì các cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả, khả năng và hiện thực lại là cơ sở phương pháp luận để chỉ rõ trình tự kế tiếp nhau của các mối liên hệ và sự phát triển là một quá trình tự nhiên. Còn các cặp phạm trù nội dung và hình thức lại là cơ sở phương pháp luận để xây dựng các hình thức tồn tại trong sự phụ thuộc vào nội dung, phản ánh tính đa dạng của các phương pháp nhận thức và hoạt động thực tiễn. Khả năng sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để đạt mục đích xuất phát từ quan niệm cho rằng: cùng một nội dung có thể được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, vấn đề là phải tuân theo mối liên hệ nội tại của các yếu tố cấu thành nội dung chứ không tuỳ tiện…

Tương tự như vậy, ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật cũng có ý nghĩa phương pháp luận chỉ đạo mọi hoạt động của con người để thực hiện quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử – cụ thể về phương diện vạch ra nguồn gốc, động lực, cách thức và xu hướng phát triển tiến lên của sự vật, hiện tượng trong thế giới. Trong đó:

– Quy luật mâu thuẫn là hạt nhân của phép biện chứng. Quy luật này vạch ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển phản ánh quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn bên trong của sự vật. Từ đó phải vận dụng nguyên tắc mâu thuẫn mà yêu cầu cơ bản của nó là phải nhận thức đúng đắn mâu thuẫn của sự vật mà trước hết là mâu thuẫn cơ bản và  mâu thuẫn chủ yếu, phải phân tích mâu thuẫn và quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn. Tuy nhiên, hình thức đấu tranh rất đa dạng, linh hoạt tuỳ vào mâu thuẫn cụ thể và hoàn cảnh lịch sử cụ thể. ở đây, quy luật mâu thuẫn là cơ sở phương pháp luận chỉ đạo mọi phương pháp đấu tranh cụ thể của con người với tự nhiên và xã hội, là cơ sở của nghệ thuật vận dụng mâu thuẫn có lợi cho cách mạng, cho hoà bình và tiến bộ xã hội.

Quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại phản ánh cơ chế, cách thức của mọi quá trình phát triển. Đó là cơ sở phương pháp luận chung cho mọi cơ chế phát triển với các yêu cầu  như:

* Thường xuyên tăng cường tích luỹ lượng để tạo điều kiện cho sự thay đổi về chất. Chống tư tưởng nôn nóng, đốt cháy giai đoạn.

* Khi lượng tích luỹ đủ đến độ cần mạnh dạn chuyển bước nhảy vọt có tính cách mạng. Chống tư tưởng bảo thủ, trì trệ.

* Vận dụng linh hoạt các hình thức bước nhảy để đẩy nhanh quá trình phát triển.

– Quy luật phủ định của phủ định khái quát khuynh hướng vận động, phát triển tiến lên theo hình thức xoáy trôn ốc, đồng thời thể hiện tính chất chu kỳ trong sự phát triển. Đó là nguyên tắc của sự phủ định biện chứng chỉ đạo mọi phương pháp nhận thức và hoạt động của con người. Phương pháp phủ định cái phủ định đòi hỏi có kế thừa cái cũ song có chọn lọc, có phê phán, khôn kế thừa nguyên xi, máy móc, đồng thời, cũng tránh khuynh hướng phủ định sạch trơn.

Nói tóm lại, vận dụng phép biện chứng duy vật với tư cách là phương pháp luận cải tạo hiện thực đòi hỏi phải vận dụng sáng tạo trong những điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Cần phải coi nó như là kim chỉ nam phương pháp luận biết tận dụng nó với tư cách là một nghệ thuật vận dụng các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử vào trong nhận thức và cải tạo cách mạng.