Sự biểu hiện của gen về cấu trúc và kiểu hình

Sự biểu hiện của gen về cấu trúc

Gen là một đoạn của phân tử ADN được cấu tạo từ các đơn phân là các nuclêôti.

Mỗi nuclêôtit có kích thước trung bình 3,4 A” và khối lượng trung bình 300 đơn vị cacbon, được cấu tạo từ 3 thành phần :

Một phân tử đường đêôxiribô (C:H¡oO/).

Mội phân tử axit photphoric (HạPO/).

Một trong 4 loại bazơ nitric là ađênin (ký hiệu A), timin (T), guanin (G) và xiItôzin (X).

Tên của mỗi nuclêôtit được xác định bằng tên của loại bazơ nitric chứa trong nuclêôtit đó. Các nuclêôtit liên kết với nhau tạo thành mạch pôlinuclêôtit bằng các liên kết hóa trị hình thành giữa axit photphoric của nuclêôtit này với đường của nuclêôtit kế tiếp. Mỗi gen gồm 2 mạch pôlinuclêôtit với tổng số nuclêôtit bình thường trong khoảng từ 1200 đến 3000.

Hai mạch pôlinuclêôtit của gen xoắn song song theo chiều từ trái sang phải tạo thành nhiều vòng xoắn. Mỗi vòng xoắn có chứa 10 cặp nuclêôtit với chiều dài trung bình là 30 A°. đường kính của gen luôn ổn định bằng 20 A°. Giữa các nuclêôtit năm trên 2 mạch pôlinuclêôtit có các liên kết hyđrô theo nguyên tắc bổ sung : A° trên mạch này liên kết với T trên mạch kia bằng 2 liên kết hyđrô và G trên mạch này liên kết với X trên mạch kia bằng 3 liên kết hyđrô.

Gen chứa thông tin di truyền đặc trưng bằng trình tự các bộ ba nuclêôuit kế tiếp nhau, mỗi bộ ba điều khiển tổng hợp 1 axit amin của phân tử prôtêïn.

Sự biểu hiện của gen về kiểu hình :

Gen sao mã tổng hợp ARN, qua đó điều khiển giải mã tổng hợp prôtê¡n. Prôtêin hình thành tương tác với môi trường biểu hiện tính trạng của cơ thể.

Một gen có thể qui định một tính trạng. Tính trạng do gen qui định có thể là tính trạng trội hoàn toàn hay trội không hoàn toàn hoặc cũng có thể là tính trạng lặn.

Một gen có thể qui định nhiều tính trạng khác nhau gọi đó là tính đa hiệu của gen.

Nhiều gen có thể cùng tương tác qui định một tính trạng theo kiểu tương tác bổ trợ, tác động ái chế hay tác động tích lũy.

Gen nằm trên nhiễm sắc thể thường qui định tính trạng thường, gen này phân bố đồng đều giữa các cá thể đực và cá thể cái trong loài. Vì vậy tính trạng được biểu hiện đồng đều ở 2 giới trong loài.

Gen nằm trên nhiễm sắc thể giới tính qui định tính trạng thường liên kết giới tính. Gen này phân bố không đồng đều giữa các cá thể đực và cá thể cái trong loài dẫn đến tính trạng biểu hiện không đồng đều giữa 2 giới trong loài.

Gen nằm trên nhiễm sắc thể giới tính X : có hiện tượng di truyền chéo, kết quả lai thuận và lai nghịch khác nhau.

Gen nằm trên nhiễm sắc thể giới tính Y : có hiện tương di truyền thẳng, tính trạng chỉ biểu hiện ở các cá thể mang đôi nhiễm sắc thể giới tính XY.

Gen nằm trong tế bào chất qui định tính trạng của con lai theo mẹ vì hợp tự phát triển chủ yếu trong tế bào chất của trứng, tế bào chất của tính trùng nhỏ, không đáng kể.

Khi gen bị biến đổi do các tác nhân gây đột biến dẫn đến phân tử prôtêin được điều khiển tổng hợp thay đổi và do đó tính trạng do gen qui định cũng bị thay đổi.

Nếu gen bị đột biến trội, kiểu hình biểu hiện ngay ở đời của cá thể bị đột biến.

Nếu gen bị đột biến lặn, kiểu hình không biểu hiện nếu ở thể dị hợp, nhưng qua giao phối trong quần thể, gen đột biến có thể biểu hiện kiểu hình ở thế hệ sau nếu ở trạng thái đồng hợp.