Trình bày nội dung cải cách hệ thống ngân hàng theo hướng tự do hóa tài chính

Thực hiện Tự do hoá tài chính trong lĩnh lực ngân hàng

1.4.1.1 Tự do hoá lãi suất

Tự do hoá lãi suất là cơchếlãi suất trong đó có rất ít hoặc không có sự can thiệp của các cơ quan chức năng vào việc hình thành lãi suất mà lãi suất được hình thành trên cơsởthịtrường, vận động theo qui luật cung cầu.

Tự do hoá lãi suất được hiểu là lãi suất hoàn toàn được điều chỉnh theo yêu cầu của thịtrường. sự can thiệp của NHTƯ đối với lãi suất thịtrường được điều hành thông qua các công cụgián tiếp nhưlãi suất tái chiết khấu hay tái cấp vốn đểtác động lên cung cầu vốn trên thịtrường tiền tệnhằm xác lập mức lãi suất cân bằng. Nhưvậy Tự do hoá lãi suất có thể được hiểu là việc tháo bỏhoàn toàn các ràng buộc vềlãi suất trong nền kinh tế, cho phép lãi suất trong nền kinh tế đạt tới điểm cân bằng của nó. Thực chất của Tự do hoá lãi suất là một quá trình loại bỏcác quy phạm, giới hạn bất hợp lý, loại bỏtối đa các kiểm soát vềlãi suất trong kinh doanh tiền tệcủa khu vực trung gian tài chính và thay thếbằng các biện pháp điều tiết lãi suất gián tiếp của NHTƯthông qua các công cụcủa chính sách tiền tệ: trong điều hành chính sách lãi suất, NHTƯchỉcông bốcác mức lãi suất áp dụng đối với các khoản cho vay tái chiết khấu hoặc tái cấp vốn của mình đối với các tổchức tín dụng. Các mức lãi suất tiền gửi, cho vay cụthểtheo từng thời kỳ, từng đối tượng của các tổchức tín dụng đối với nền kinh tếsẽdo tổchức tín dụng tự ấn định, dựa trên cung cầu vốn và sựcạnh tranh trên thịtrường, từ đó hình thành nên mức lãi suất phản ánh đúng nhu cầu thịtrường. Khi muốn điều hành lãi suất kinh doanh của các tổchức tín dụng trong nền kinh tế, phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệtừng giai đoạn, NHTƯsẽthực hiện thông qua điều hành lãi suất tái chiết khấu của mình đốivới các tổchức tín dụng, từ đó tác động đến lãi suất trên thịtrường tiền tệ liên ngân hàng và cuối cùng sẽtác động đến lãi suất kinh doanh của các tổchức tín dụng.

Tự do hóa lãi suất góp phần làm cho các dòng vốn trong xã hội được Tự do lưu chuyển đến bất kỳ đâu, tùy thuộc vào ý muốn của nhà đầu tưmà không phải gặp bất cứsựngăn cản phi kinh tếnào. Lãi suất khi đó tự điều chỉnh linh hoạt và nhạy cảm, phản ánh nhu cầu đòi hỏi của thịtrường. Nhờcó quá trình Tự do hóa lãi suất mà dòng vốn được lưu chuyển từnơi có lợi nhuận thấp đến nơi có lợi nhuận cao, từnơi nhiều rủi ro đến nơi mức rủi ro thấp hơn, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện ổn định kinh tếvĩmô, tăng vốn đầu tưphát triển sản xuất, giúp các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển mạnh và có hiệu quả.

Lãi suất nếu chưa được Tự do hóa và vẫn bịkiểm soát chặt chẽtrong thời gian dài sẽ gây ra những thiệt hại tổng thểcho nền kinh tế. Trong trường hợp các ngân hàng buộc phải thực hiện cho vay với lãi suất thấp hơn lãi suất thịtrường dưới một sức ép nào đó và phải huy động với lãi suất cao thì chênh lệch lãi suất đầu vào và lãi suất đầu ra sẽ không đảm bảo bù đắp chi phí hoạt động của ngân hàng, như thế các tổchức tín dụng sẽkhông phát triển. Mặt khác, khi phải cho vay với lãi suất thấp và huy động vốn với lãi suất thấp để đảm bảo đủbù đắp chi phí, lãi suất thấp sẽkhông khuyến khích người dân duy trì nguồn vốn tiết kiệm của mình ởtrong nước từ đó dẫn đến kìm hãm sựtăng trưởng các khoản tiết kiệm và giảm hiệu quảcủa đầu tư.

Khi kiểm soát lãi suất quá chặt chẽsẽkhuyến khích sựhình thành các công cụtài chính và các trung gian tài chính không chính thức phát triển đểcạnh tranh với các công cụtài chính và các trung gian tài chính chính thức bịkiểm soát làm cho quá trình phi trung gian tài chính phát triển và sựtrốn tránh các quy chếkiểm soát.

Thực tiễn cho thấy, trong quá trình điều hành nền kinh tế, nhiều quốc gia đặt ra mức trần lãi suất cho vay nhằm kiểm soát cảlãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay nghĩa là không Tự do hóa lãi suất dẫn đến hậu quảthịtrường tài chính không ổn định và không phát huy được tính năng động sáng tạo, không ổn định làm cho hiệu quảtrong việc huy động vốn và sửdụng vốn không cao và nhất là không khơi dậy được nguồn vốn tiềmnăng của dân cư đầu tưcho sản xuất. Nhà nước điều hành thịtrường song chính sách lại tách rời khỏi các thuộc tính của kinh tếthịtrường tất yếu không mang lại hiệu quả.

Tiến trình Tự do hóa lãi suất ngoài những tác động tích cực còn có những tác động tiêu cực, ảnh hưởng đến nhiều mặt của nền kinh tế. Nhưng đứng trước bối cảnh hội nhập, các nước cần phải Tự do hóa lãi suất, vấn đềlà các nước nên chọn cách đi nào cho phù hợp với nền kinh tếthịtrường hiện nay và phải làm thếnào đểcó thểtận dụng và phát huy tối đa những mặt tích cực mà Tự do hóa lãi suất mang lại cũng nhưhạn chếđược tối đa những tác động xấu của cơchếnày. Tự do hoá lãi suất được coi là hạt nhân, là vấn đềcốt lõi của Tự do hoá tài chính trong lĩnh vực ngân hàng, bởi nhờnó mà làm cho các luồng tài chính vận động một cách thông suốt. Tự do hoá lãi suất là một xu thếkhách quan trong quá trình hội nhập. Mức độTự do hoá lãi suất càng sâu rộng bao nhiêu thì hội nhập quốc tếvềngân hàng càng nhanh chóng bấy nhiêu.

Để tự do hoá lãi suất, cần có những điều kiện sau:

Một là,hành lang pháp lý cho hoạt động kinh tếtài chính đã tương đối đồng bộvà hoàn chỉnh.

Hai là,thịtrường tài chính gồm thịtrường tiền tệvà TTCK đã ra đời và vận hành hiệu quả.

Ba là,các tổchức kinh tế đều đảm bảo khảnăng sửdụng vốn triệt đểvà có hiệu quả.

Bốn là,môi trường kinh tếvĩmô đã ổn định và tương đối chắc chắn.

Năm là,hệthống ngân hàng ổn định và hoạt động hữu hiệu.

Sáu là,các ngưồn lực trong nước nhưvốn, tài nguyên, lao động … đã được phân phối và sửdụng tương đối hợp lý.

1.4.1.2 Tự do hoá cơchếtín dụng

Tự do hoá cơchếtín dụng là tôn trọng các điều kiện khách quan trong hoạt động tín dụng. Tự do hóa tín dụng đòi hỏi phải xóa bỏcác hạn chế, định hướng hay ràng buộc vềsốlượng trong quá trình cung cấp cũng nhưphân phối tín dụng nhằm nâng cao hiệu quảcủa hoạt động tín dụng cho mọi thành phần kinh tế.

Một biểu hiện cụthểcủa việc định hướng tín dụng là Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng thương mại quốc doanh mởcác tài khoản cho vay theo chỉ định của Chính phủhay dùng NSNN bao cấp cho một sốhoạt động kinh tế, xã hội đã không tính đến hiệu quảsửdụng đồng vốn.

Nội dung Tự do hóa hoạt động tín dụng không có nghĩa là hoàn toàn hạthấp vai trò của Chính phủ. Ởcác nước đang phát triển, đểduy trì tỉlệcần thiết quan trọng trong tín dụng cho nền kinh tếtheo sựchỉ định của Chính phủ, Chính phủcó thểcan thiệp vào cơcấu đầu tưcũng nhưbảo đảm sựlành mạnh của các trung gian tài chính. Tuy nhiên Tự do hóa tín dụng, thừa nhận vai trò chính, song không đồng nhất với sự can thiệp quá sâu của Chính phủvì hậu quảcủa nó có thểdẫn đến thịtrường tài chính bịbóp méo, hiệu quảsửdụng các nguồn lực tài chính không cao, thậm chí lãng phí.

Như đã phân tích trên, Tự do hóa tín dụng không có nghĩa là Chính phủhoàn toàn không còn vai trò đối với việc sửdụng các nguồn lực tài chính, đểmặc cho thịtrường tựđiều chỉnh. Nếu vậy sẽdẫn đến đầu tưsai lệch, các nguồn vốn được tập trung nhiều vào lĩnh vực đang sinh lợi, còn các lĩnh vực khác thì thiếu vốn do khảnăng sinh lời thấp hay thiếu hấp dẫn thu hồi vốn chậm, nhất là những ngành đóng vai trò quan trọng đối với sựphát triển của nền kinh tế, liên quan đến lợi ích cho quốc kếdân sinh, lợi ích công cộng.

Tự do hóa các hoạt động tín dụng không có nghĩa là hoàn toàn Tự do mà cần thiết phải có vai trò của Chính phủ. Tuy nhiên vai trò đó chỉthểhiện ởnhững dựán lớn theo định hướng phát triển kinh tếcủa quốc gia. Nhà nước không nên can thiệp quá sâu vào lĩnh vực phân phối tín dụng nhằm tạo điều kiện đểcác dòng vốn tìm đến nơi cần, theo nguyên tắc chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với phần vốn nhận được, bảo đảm khảnăng thu hồi và có lãi.

Nội dung của Tự do hoá cơchếtín dụng: Một là, bãi bỏhoàn toàn việc ấn định hạn mức tín dụng và các tỷlệcó liên quan. Hai là, xoá bỏbao cấp trong hoạt động tín dụng. Ba là, mởrộng tín dụng cho mọi thành phần kinh tế đểtận dụng các nguồn lực đang có và tiềm ẩn trong nền kinh tế. Bốn là, xoá bỏnhững ràng buộc của hệthống ngân hàng trong hoạt động tín dụng, nâng cao tính tựchịu trách nhiệm và tính tựchủ, tạo môi trường thông thoáng cho việc cung ứng vốn cho nền kinh tế.

1.4.1.3 Tự do hoá tỷ giá hối đoái

Tự do hoá tỷgiá hối đoái là đểcho diễn biến tỷgiá hối đoái trên thịtrường biến động dưới tác động của quan hệcung cầu là chủyếu, cơ quan quản l ý Nhà nước tránh sự can thiệp trực tiếp và thái quá. Xu hướng toàn cầu hoá đang diễn ra rất nhanh chóng.

Việc giao lưu, thông thương hàng hoá giữa các nước ngày một gia tăng. Tỷgiá hối đoái là một trong những nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽvà trực tiếp đến hoạt động đó. Vì vậy, yêu cầu các quốc gia dần phải từbỏcách kiểm soát quá chặt chẽtỷgiá, đưa đồng bản tệcó khảnăng chuyển đổi cao. Khi Chính phủvà NHTƯtừbỏviệc can thiệp của mình và đểcho tỷgiá được Tự do xác định trên thịtrường thì nước đó đang theo đuổi chính sách tỷgiá Tự do. Vì vậy, Tự do hoá tỷgiá là một quá trình tiến tới cho phép tỷgiá được tựxác định trên thịtrường.

Tự do hoá tỷgiá hối đoái bao gồm những nội dung chính sau: Thứnhất, bãi bỏtỷgiá cố định với việc công bốtỷgiá chính thức. Thứhai, nới lỏng biên độgiao dịch và tiến tới xoá bỏbiên độgiao dịch tỷgiá trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Thứba,đểcho tỷgiá biến động theo tương quan cung cầu trên thịtrường và chỉcan thiệp có giới hạn khi xét thấy cần thiết.

Tự do hoá tỷgiá cũng tiềm ẩn trong đó những bất ổn nhất là đối với những nền kinh tế đang phát triển. Chẳng hạn nhưtỷgiá cao ảnh hưởng tới việc nhập khẩu, tỷgiá thấp ảnh hưởng tới xuất khẩu … bên cạnh đó còn các vấn đềkinh tếkhác sẽcó những diễn biến xấu khi tỷgiá thay đổi quá đột ngột nhưtỷlệlạm phát, lượng cung cầu ngoại tệ. Vì vậy, không một cơchếcủa quốc gia nào vềtỷgiá lại thảnổi hoàn toàn, vì nhưvậy, vai trò điều tiết vĩmô của Nhà nước sẽbịtriệt tiêu. Chính vì vậy, hầu hết các nước áp dụng cơchếTự do hoá tài chính, thì tỷgiá cũng sẽ được thảnổi nhưng có quản lý, nghĩa là không thảnổi hoàn toàn.

Đểthực hiện Tự do hoá tỷgiá hối đoái phải có một số điều kiện nhất định: Một là,thịtrường hối đoái phải được hình thành trước và hoạt động trôi chảy. Hai là,lưu thông tiền tệtrong nước tương đối ổn định và được kiểm soát tốt. Ba là,hoạt động kinh tếtài chính đối ngoại phải tương đối ổn định. Bốn là,dựtrữngoại hối phải đủlớn, cán cân vãng lai thặng dưvà tương đối ổn định. Năm là,hệthống ngân hàng trong nền kinh tếhoạt động hiệu quảvà ổn định.

1.4.1.4 Tự do hoá quản lý ngoại hối và các luồng vốn quốc tế

Tự do hoá quản lý ngoại hối và các luồng vốn quốc tế đó là làm cho các nguồn vốn nước ngoài và trong nước Tự do luân chuyển, tạo sựhấp thụcó hiệu quảcác nguồn vốn từbên ngoài đểphát triển kinh tế, bên cạnh đó mởrộng giao lưu kinh tếthương mại với các nước trên thếgiới, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng.

Nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tếkhông chỉhuy động từnội bộmỗi quốc gia mà còn từbên ngoài từcác mối quan hệsong phương và đa phương với các nước khác. Quan hệngoại thương là cần thiết và tất yếu khách quan nhất là trong bối cảnh hiện nay các quốc gia đều có xu hướng tham gia vào các khối Tự do thương mại và mậu dịch thì Tự do hoá hoạt động ngoại hối sẽgiúp cho quan hệthương mại diễn ra thuận lợi và nhanh chóng hơn.

Với xu thếvận động và phát triển của nền kinh tế thếgiới, chúng ta đang từng bước hội nhập nền kinh tếthếgiới, theo tinh thần Nghịquyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứVIII [49]: “xây dựng một nền kinh tếmở”, “ đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tếkhu vực và thếgiới”. Không nước nào đứng một mình có thểphát triển một cách thuận lợi được trong thời đại ngày nay. Vấn đề đặt ra là ởchỗ: “làm sao đểhoà nhập nhưng không hoà tan”.

Xu thếchung của các quốc gia trên thếgiới đang mởcửa biên giới, bãi bỏcác rào cản mậu dịch và nới lỏng dần các biện pháp kiểm soát tài chính đểhội nhập toàn cầu nếu không muốn tụt hậu, đứng bên lềcuộc chạy đua tăng trưởng kinh tế. Trao đổi giao lưu kinh tếhàng hoá đang ngày càng được mởrộng, thông thoáng và tất yếu là cùng với nó dòng vốn cũng lưu chuyển mạnh mẽhơn ởphạm vi quốc gia và quốc tế.

Với vịtrí quan trọng của các nguồn lực tài chính, lĩnh vực ngân hàng giữvai trò huyết mạch của nền kinh tế, thông qua các chính sách và công cụ để điều hành nền kinh tế. Đểhội nhập thành công, chúng ta cần tạo ra hành lang pháp lý trên cơsởtôn trọng các qui luật kinh tếkhách quan của thịtrường, tạo điều kiện cho các chủthểtrên thịtrường có thểTự do quyết định việc hình thành và sửdụng các nguồn lực tài chính theo tín hiệu thịtrường

Tham khảo

Ngày nay trong sự phát triển và hội nhập nhanh chóng nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới đã cho thấy sự tăng trưởng kinh tế nhanh hay chậm hoặc suy thoái đều phụ thuộc rất nhiều vào chính sách cũng như cơ cấu của hệ thống tài chính mỗi quốc gia. Xu hướng được nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn thực hiện là tiến hành tự do hóa tài chính.

Việc tự do hóa tài chính bao gồm các nội dung cơ bản như xóa bỏ các hạn chế, định hướng hay ràng buộc về số lượng trong quá trình cấp và phân phối tín dụng, chấm dứt các kênh cấp vốn ưu đãi, các định chế tài chính có quyền tự do xác định các lãi suất tiền gửi, cho vay và tự do sử dụng công cụ lãi suất, mở rộng cạnh tranh trong các hoạt động trung gian tài chính, chấm dứt những phân biệt đối xử về pháp lý giữa các lọai hình sở hữu và hoạt động khác nhau và tự do hóa các luồng vốn quốc tế. Khi tự do hóa tài chính các dòng vốn được tự do lưu chuyển từ nơi có hiệu suất sinh lợi thấp sang nơi có hiệu suất sinh lợi cao mà không bị ngăn cản bởi các qui định phi kinh tế.

Trong môi trường quốc tế hóa một cách mạnh mẽ về mọi mặt như hiện nay, VN cũng không thể đứng ngoài tiến trình toàn cầu hóa, để hội nhập vào xu hướng chung này VN cần từng bước thực hiện tự do hóa trên nhiều phương diện trong đó tự do hóa tài chính có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự phát triển của kinh tế đất nước.

1. Hệ thống ngân hàng VN trong tiến trình thực hiện chính sách tự do hóa tài chính

Hệ thống ngân hàng VN là trung tâm tài chính cốt lõi của nền kinh tế quốc gia, nó là trọng tâm của việc thực thi các chính sách tài chính tiền tệ của nhà nước, nhìn vào thực trạng hoạt động của hệ thống ngân hàng, ta có thể đánh giá được hiệu quả của hệ thống tài chính và sự phát triển của nền kinh tế đất nước.

2. Những tồn tại trong tiến trình thực hiện tự do hóa tài chính

2.1 Vấn đề lãi suất

Việc áp dụng cơ chế tự do hóa lãi suất đã tạo điều kiện tốt cho sự phát triển của hệ thống ngân hàng và là bước tiến quan trọng của quá trình tự do hóa tài chính ở VN. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi tích cực thì việc thực hiện tự do hóa lãi suất trong thời gian qua cũng nảy sinh một số vấn đề bất cập trong quản lý lãi suất và khó khăn cho hệ thống ngân hàng VN như việc NHNN công bố lãi suất cơ bản nhằm định hướng lãi suất thị trường trong thời gian qua đã bộc lộ những hạn chế, các NHTM cổ phần tiềm lực về tài chính còn hạn chế phải đối mặt khi tiến hành tự do hóa lãi suất.

2.2 Hệ thống pháp lý và kế toán – kiểm toán

– Hệ thống pháp lý: Tuy đã có những sửa đổi nhất định để hoàn thiện hành lang pháp lý, nhưng thực tế vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, hiệu quả kinh doanh của toàn hệ thống còn thấp, sức cạnh tranh còn khoảng cách xa so với các nước trong khu vực và trên thế giới …

– Kế toán – kiểm toán: Chúng ta đã có Luật kế toán và Luật kiểm toán nhưng hoạt động kế toán, kiểm toán ở VN vẫn chưa đạt đến qui mô mà tiến trình phát triển kinh tế – xã hội đòi hỏi.

2.3 Điều hành tỷ giá hối đoái

Xung quanh vấn đề tỷ giá ở VN hiện nay, các nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng: Giá trị đồng VN đã bị đánh giá quá cao so với ngoại tệ , như vậy, trước hết nó sẽ làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa VN trên thị trường quốc tế, ảnh hưởng xấu đến hoạt động xuất nhập khẩu, sau đó làm NHNN khó điều hành chính sách tiền tệ.

2.4 Hệ thống ngân hàng

Trong thời gian qua, Nhà nước đã có những thay đổi về chính sách giúp cho hệ thống ngân hàng VN tiến gần hơn đến điều kiện đủ cho thành công của tự do hóa tài chính. Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng VN còn nhiều yếu kém trên các mặt

a. Quản lý yếu kém

Vấn đề điều hành, quản lý hoạt động ngân hàng từ NHNN đến các NHTM chiếm vị trí quan trọng trong việc quyết định hoạt động hiệu quả và tính lành mạnh của hệ thống, nhất là đối với NHTM trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trường và chấp nhận cơ chế kinh doanh bình đẳng.

Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ chưa được chú ý đúng mức ở các NHTM, trong một số ngân hàng, bộ phận kiểm soát nội bộ tồn tại mang tính hình thức, không phát hiện được những sai sót của bộ phận điều hành hoặc nếu có phát hiện ra thì cũng không xử lý được. Đây là vấn đề mà hệ thống ngân hàng VN cần có biện pháp khắc phục vì nó liên quan mật thiết đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, nhất là trong vấn đề quản lý lãi suất của hoạt động tín dụng.

b. Tính cạnh tranh thấp

Hiện nay, NHTMQD vẫn chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống ngân hàng mà khách hàng của khu vực này chủ yếu vẫn là các DNNN, điều này khiến cho việc cải cách hoạt động của các NHTMQD sang kinh doanh trên cơ sở thương mại thực sự và tạo môi trường kinh doanh bình đẳng trong lĩnh vực ngân hàng gặp khó khăn. Sự bảo trợ công khai hay ngấm ngầm của Nhà nước đối với các DNNN trong việc vay vốn ngân hàng vẫn còn tồn tại đồng nghĩa với việc phát huy tác dụng của các qui luật kinh tế thị trường trong lĩnh vực này bị cản trở, dẫn đến tính cạnh tranh trong khu vực NHTMQD còn thấp.

3. Giải pháp cho vấn đề tự do hóa tài chính và cơ cấu lại hệ thống ngân hàng ở VN

3.1 Sử dụng công cụ lãi suất trong quản lý vĩ mô

3.1.1 Công cụ điều tiết lãi suất

Lãi suất là một trong những công cụ được các chính phủ sử dụng trong quản lý vĩ mô nền kinh tế nhất là trong cơ chế thị trường, nó kích thích tập trung nguồn lực tài chính và phân bổ nguồn lực đó một cách có hiệu quả, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, ổn định mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia.

3.1.2 Sử dụng hiệu quả công cụ lãi suất

Trên sơ sở kinh nghiệm thực tế của một số nước trên thế giới về việc sử dụng công cụ lãi suất trong điều hành chính sách tài chính, tiền tệ thì việc lựa chọn lãi suất nào là cơ bản, có tính chất tác động đến lãi suất thị trường phụ thuộc vào điều kiện phát triển của thị trường tài chính tiền tệ của quốc gia. Hiện tại, việc sử dụng các loại lãi suất trên thị trường liên ngân hàng của NHNN VN mang tính chất hình thức do độ nhạy cảm của các lãi suất này đối với thị trường thấp; vấn đề được đặt ra là làm thế nào để lựa chọn lãi suất chủ đạo với điều kiện lãi suất này phản ánh đúng quan hệ cung cầu vốn trên thị trường, đồng thời có tác dụng điều chỉnh lãi suất thị trường theo mục tiêu của chính sách tiền tệ.

a. Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng

Mặc dù thị trường liên ngân hàng đã được thiết lập và hoạt động được một thời gian, nhưng đối với các NHTM thì thị trường liên ngân hàng chưa phải là nơi có thể sẵn sàng cung cấp nguồn vốn thiếu hụt, các nghiệp vụ được thực hiện trên thị trường này còn ít nên chưa hình thành được lãi suất IBOR. Đối với một thị trường liên ngân hàng phát triển, các NHTM phải tính toán kỹ lượng vốn thừa hay thiếu trong ngắn hạn để có thể xác định mức vay hoặc cho vay của mình trên thị trường liên ngân hàng một cách chính xác, và khi giao dịch trên thị trường này, bắt buộc phải theo thực hiện lãi suất mình đã công bố. Vì vậy, muốn hình thành lãi suất IBOR và nó có tác dụng trong việc điều tiết lãi suất thị trường theo đúng mục tiêu thì việc thúc đẩy hoạt động của thị trường này của NHNN là vấn đề quan trọng.

b. Lãi suất trên thị trường mở

Nghiệp vụ thị trường mở được nhiều nước trên thế giới sử dụng rất hiệu quả trong việc điều tiết thị trường tiền tệ cũng như định hướng lãi suất trên thị trường do lãi suất trên thị trường này khá sát và nhạy với với lãi suất thị trường, bên cạnh đó các nghiệp vụ trên thị trường mở dễ dàng được sửa chữa hơn nếu NHNN phát hiện sai sót so với nghiệp vụ trên thị trường liên ngân hàng, quan trọng nhất là khả năng thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường này có thê đáp ứng yêu cầu về cung ứng vốn, đủ sức điều chỉnh lãi suất trên thị trường một cách hữu hiệu, nhưng kèm theo đó là điều kiện phát triển của thị trường mở cũng như yêu cầu hoạt động thường xuyên để NHNN có thể thu thập, xử lý thông tin và thực hiện nghiệp vụ thị trường mở sao cho hoạt động trên thị trường tiền tệ không vượt quá tầm kiểm soát của NHNN và đi đúng mục đích của chính sách tài chính tiền tệ.

3.2 Cơ chế quản lý tỷ giá hối đoái

Hiện nay, trên thế giới còn tồn tại nhiều chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau, nhưng trong điều kiện hội nhập và quốc tế hóa ngày nay, xu hướng tiến tới tự do hóa tỷ giá hối đoái đang được Chính phủ các quốc gia theo đuổi. Xét trên bình diện quản lý vĩ mô thì NHNN VN đang thực hiện chế độ tỷ giá linh hoạt, có sự kiểm soát của Nhà nước, đây có thể nói là một lựa chọn đúng đắn của Nhà nước trong điều kiện quá trình hội nhập của VN với thế giới còn nhiều cách biệt. Nếu lựa chọn chế độ tỷ giá thả nổi tự do thì điều kiện phát triển kinh tế – xã hội hiện nay của chúng ta chưa cho phép, còn nếu lựa chọn chính sách điều hành tỷ giá theo kiểu “an toàn” thì không thể tránh khỏi những áp đặt mang tính hành chính vào quản lý tỷ giá – điều mà chúng ta đang cố gắng thay đổi để thích ứng dần với việc điều hành nền kinh tế theo các qui luật phát triển. Điều kiện nêu trên đặt ra những yêu cầu đối với Nhà nước trong việc lựa chọn và điều hành tỷ giá phải hết sức linh hoạt, thích ứng dần với hội nhập và tạo động lực phát triển kinh tế.

3.2.1 Xác định đúng giá trị của đồng VN

Từ lâu đồng tiền VN (VND) đã có quan hệ tỷ giá chính thức với đồng đôla Mỹ (USD), để ấn định tỷ giá này, NHNN căn cứ vào tỷ giá của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng để công bố tỷ giá hàng ngày, đây cũng là cơ sở pháp lý để các TCTD đưa ra mức tỷ giá cụ thể trong giao dịch với khách hàng. Như vậy, tỷ giá VND chủ yếu được đánh giá thông qua sự biến động của VND so với USD, điều này phản ánh đúng thực trạng giao dịch ngoại hối của VN, các hoạt động thanh toán bằng USD chiếm tỷ trọng cao, tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào một ngoại tệ duy nhất là USD để xác định giá trị bản tệ thì quá mạo hiểm đối với việc hoạch định chính sách vĩ mô. Vì vậy, chúng ta nên xem xét lại khả năng xác định linh hoạt tỷ giá VND tương ứng với một rổ tiền tệ là các ngoại tệ mạnh có tham gia thương mại với VN, có như vậy, đồng tiền VN mới được xác định đúng giá trị và giảm thiểu tâm lý sùng bái USD, dẫn đến tình trạng đôla hóa nền kinh tế của đại bộ phận dân cư hiện nay.

3.2.2 Nới lỏng biên độ tỷ giá và tiến tới lọai bỏ các công cụ kiểm soát tỷ giá mang tính hành chính

Năm 2005, NHNN vẫn qui định biên độ tỷ giá đối với các TCTD kinh doanh ngoại tệ theo hướng nới lỏng biên độ hơn, hướng đi này giống như một bước thực tập cho các NHTM làm quen dần với việc kinh doanh tiền tệ theo cơ chế cạnh tranh bình đẳng và sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá, giảm thiểu tình trạng bị sốc do các biến động. Sau đó, Nhà nước sẽ tiến hành loại bỏ qui định mang tính hành chính áp đặt và đẩy mạnh việc sử dụng các công cụ quản lý gián tiếp trong điều hành tỷ giá hối đoái, các TCTD được tự do quyết định giá mua bán ngoại tệ trên cơ sở qui luật cung – cầu trên thị trường ngoại hối, các bước tiến hành như trên sẽ giúp cho các NHTM phát huy tính tự chủ và khả năng hội nhập thị trường tài chính quốc tế theo đúng tiến trình.

3.2.3 Sử dụng công cụ gián tiếp để điều chỉnh tỷ giá trên thị trường

Muốn cho công cụ điều chỉnh gián tiếp của NHNN thông qua nghiệp vụ trên TTNTLNH có tác dụng, điều kiện cần là TTNTLNH phải thực sự tạo niềm tin cho các NHTM bằng cách biến đây thành chỗ dựa của họ và nhu cầu được tham gia giao dịch ngọai tệ trên thị trường trở nên không thể thiếu. Hệ thống thanh tóan liên ngân hàng cần được đầu tư đúng mức để đạt được hiệu quả nhất, tiết kiệm thời gian cũng như nhân lực, đồng thời giúp cho cả NHNN và các NHTM có thể cập nhật những thông tin thị trường và ra quyết định nhanh nhất trong giao dịch trên thị trường này. Có như vậy, các nghiệp vụ ngoại hối mới có thể được thực hiện và phát triển trên thị trường, tránh sự đơn điệu về nghiệp vụ ngọai hối hiện nay của TTNTLNH và công cụ điều chỉnh của Nhà nước thông qua thị trường này mới có tác dụng.

3.3 Cơ cấu lại hệ thống ngân hàng

3.3.1 Đối với ngân hàng Nhà nước

– Cấu trúc lại tổ chức của NHNN từ Trung ương xuống chi nhánh theo hướng tinh gọn, hiện đại, tránh sự can thiệp của chính quyền các cấp.

– Xây dựng và từng bước hoàn thiện các khung pháp lý đảm bảo sự bình đẳng cho hoạt động của các tổ chức tín dụng hoạt động trên lãnh thổ VN.

– Xóa bỏ cơ chế bao cấp đối với các NHTM, đặc biệt là đối với các NHTM quốc doanh, buộc các ngân hàng này phải thực sự hoạt động theo nguyên tắc thị trường, xóa bỏ dần cơ chế tín dụng chỉ định, giao nghiệp vụ tín dụng ưu đãi theo chính sách của nhà nước cho các ngân hàng chính sách.

– Lãi suất và tỷ giá hối đoái được thỏa thuận theo quan hệ cung cầu trên thị trường, thực hiện kiểm soát gián tiếp thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ.

– Tiêu chuẩn hóa cán bộ, công chức ngân hàng.

– Xây dựng hệ thống thông tin tài chính hiện đại, đảm bảo cho hệ thống tài chính hoạt động an toàn và hiệu quả, dễ giám sát theo thông lệ quốc tế.

– Rà soát lại toàn bộ những qui định về việc thành lập, hoạt động của các tổ chức tín dụng trong nước cũng như nước ngoài . . .áp dụng linh hoạt các công cụ dự trữ bắt buộc, cho vay tái chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở.

3.3.2 Đối với các ngân hàng thương mại

Yêu cầu đối với các NHTM là :

– Các ngân hàng phải có qui mô đủ lớn, hoạt động an toàn, hiệu quả và có sức cạnh tranh cao.

– Phân bổ và huy động vốn một cách có hiệu quả.

– Nâng cao năng lực quản lý và tiềm lực tài chính của các NHTM trên cơ sở cơ cấu lại tài chính bao gồm : xử lý nợ quá hạn, đẩy mạnh tái đầu tư và cơ cấu lại sở hữu nhằm tăng vốn điều lệ.

– Hiện đại hóa hoạt động ngân hàng, xây dựng và áp dụng cơ chế kiểm tra kiểm soát nội bộ theo thông lệ quốc tế.

– Tạo sức cạnh tranh, mở rộng thị phần trong nước và tranh thủ thời cơ mở thị trường kinh doanh ra nước ngoài.

3.4 Tiến hành cổ phần hóa NHTMQD

Tiến trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng và lành mạnh hóa tài chính quốc gia đòi hỏi phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, các giải pháp lớn cần tiến hành như : xử lý nợ đọng, tăng vốn điều lệ….của hệ thống ngân hàng rất cần sự trợ giúp của Chính phủ và các cơ quan chức năng, tuy nhiên, để hệ thống ngân hàng có thể giữ được sự phát triển ổn định, đủ sức cạnh tranh trong môi trường mở cửa, ngăn ngừa sự phát sinh nợ xấu thì bản thân hệ thống ngân hàng cần có những nỗ lực hơn, nhất là các NHTMQD – những ngân hàng vốn chiếm ưu thế về thị phần và lượng vốn trong hệ thống ngân hàng VN.

Để thu hút nguồn vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài, Nhà nước có thể cho phép các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của NHTMQD với lượng cổ phần tối đa không được vượt quá một tỷ lệ qui định, nhằm tránh tình trạng bị thâu tóm bởi các tập đoàn tư bản nước ngòai do chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc điều hành cũng như tổ chức hoạt động của một NHTM hiện đại. Bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngòai, phát triển về vốn hoạt động ngân hàng, chúng ta có thể thuê các tổ chức tài chính quốc tế thực hiện việc cấu trúc lại hoạt động NHTM theo tiêu chuẩn của NHTM quốc tế hiện đại. Có như vậy, NHTM của VN mới trở thành một NHTM hiện đại đích thực, có khả năng cạnh tranh và vươn ra thị trường quốc tế.

Xu hướng tất yếu khách quan ngày nay là hòa nhập kinh tế toàn cầu, gắn liền với quá trình tự do hóa thương mại và dòng vốn lưu chuyển không biên giới. Nếu tách biệt ra khỏi quá trình này, một quốc gia không thể đạt được sự phát triển cao và bền vững. Đối với VN, đổi mới trong chính sách tài chính là một bộ phận cấu thành của tiến trình hòa nhập kinh tế thế giới nên thành công của việc thực hiện chính sách tài chính sẽ góp phần không nhỏ vào thành công của công cuộc đổi mới nền kinh tế – xã hội … có như vậy, VN mới có thể thực hiện thành công tự do hóa tài chính – một bước tiến quan trọng, một xu thế tất yếu của quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay.